Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013

7 ĐIỀU CẦN LÀM ĐỂ GIÚP CON TỰ TIN - ỨNG XỬ VĂN MINH

giup-con-tu-tin-ung-xu-van-minh-bi-quyet-lam-cha-me-song-dep-lam-chu-ban-than-cam-xuc.jpg

(By Ailien Tran) Mình quan sát và thường xuyên thấy cảnh cha mẹ Việt Nam ép con chào hỏi người lớn khi đi ra đường. Khi ép con nói chuyện với khách không được thì chê bai ngay tại chổ. 

Thường xuyên như vậy thì con sẽ bị ám ảnh cái khó chịu của bị ép buộc và chê bai, và bé sẽ ngày càng nhút nhát khi đi ra ngoài và gặp người lạ.

1- KHÔNG ép con chào hỏi

2- Khi rãnh rỗi hãy giải thích cho con lễ nghĩa là nét đẹp của văn hóa, và con người hơn con vật ở chỗ chúng ta biết giao tiếp và có văn hóa

3- Hỏi con "thế con có muốn làm người văn minh không?"

4- Nếu bé nói "không" thì khi gặp khách xin lỗi khách "Xin lỗi, tôi đã giải thích & thuyết phục nhưng con tôi chưa có ý thức chào hỏi, mong chị/anh tha thứ"

5- Tiếp tục kế chuyện, đọc sách, xem phim để chỉ cho bé thấy ích lợi của chào hỏi

6- Khi bé đồng ý và muốn là người văn minh thì hỏi bé "thế con muốn bố mẹ hỗ trợ không?" Nếu bé gật đầu thì nói "vậy mỗi lần gặp khách, bố mẹ chào trước rồi con chào theo lời bố mẹ nhé"

7- Nếu mình làm như vậy mà bé không làm theo thì TUYỆT ĐỐI KHÔNG CHÊ BAI, hãy khuyến khích "KHÔNG SAO, LẦN SAU CON SẼ LÀM ĐƯỢC MÀ"

Người ta chỉ làm cái gì người ta thấy thích thú và có lợi cho chính họ thôi. Mưu cầu hạnh phúc là nhân quyền căn bản. Hãy tôn trọng hạnh phúc của con, và từ đó giúp bé vui vẻ và giao tiếp tốt.

Sưu tầm từ bài chia sẻ của Th.s Trần Thị Ái Liên

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

3 NGUYÊN TẮC ĐỂ CÓ BỮA ĂN BÌNH AN VÀ HẠNH PHÚC TRONG GIA ĐÌNH

Những quy tắc dành riêng cho cha mẹ:
  • Ăn cùng nhau thường xuyên,
  • Tắt TV, vặn nhỏ nhạc,
  • Bật máy trả lời tự động.
Mỗi phần của cuốn sách này có một đoạn về các cách thức tại bàn ăn, bởi vì ăn uống lịch sự là một trong những kỹ năng phức tạp nhất và ít tự nhiên nhất mà trẻ em cần nắm vững. Nhưng không chỉ trẻ em mà còn có nhiều điều cha mẹ cũng cần làm theo. Chúng tôi cung cấp một sự sắp đặt, một môi trường có thể giúp việc học hỏi của trẻ khả thi. Đó là:
1/Ăn cùng nhau thường xuyên
Tôi biết rằng những thời gian biểu cực kỳ phức tạp và việc cả nhà quây quần bên bàn ăn lúc 6h30 tối mỗi ngày đã chỉ còn trong quá khứ. Mặc dù vậy, bạn không thể dạy cho trẻ các cách thức ăn uống nếu bạn không cùng ngồi ăn với trẻ. Và trẻ sẽ không bao giờ hiểu các bữa ăn là thời gian giao tiếp xã hội trừ khi bạn dùng các bữa ăn theo cách đó. Ít nhất vài lần trong tuần (tất nhiên càng nhiều càng tốt), cả gia đình nên ăn cùng nhau. Có thể đó là bữa sáng cuối tuần hoặc tối thứ 6 với đồ ăn sẵn. Điều quan trọng là bạn phải tạo ra một môi trường như vậy.
2/Tắt TV, vặn nhỏ nhạc
Điểm mấu chốt là cả gia đình nên cùng giải trí cho nhau trong suốt bữa ăn. Nếu bạn gặp khó khăn trong việc bắt đầu việc trò chuyện, hãy hỏi từng người về những việc vui mà họ có trong ngày. Sự nhiệt tình sẽ phá vỡ sự nhạt nhẽo, buồn chán trong bữa ăn.
3/Bật máy trả lời tự động
Nếu bạn đã vượt qua tất cả các rắc rối để dành thời gian cho gia đình thì tại sao lại để cho một ông huấn luyện viên Little League phá hỏng, cắt ngang nó? Hãy để máy tự động nhận cuộc gọi và vặn nhỏ âm lượng của điện thoại để không bị cám dỗ đi nghe máy. Việc giúp trẻ hiểu rõ giá trị giao tiếp của mỗi bữa ăn là bước đầu tiên để hình thành những thói quen bên bàn ăn đúng đắn.
(Trích từ "Elbows off the Table, Napkin in the lap, No Video Games During Dinner, The Modern Guide to Teaching Children Good Manners của Tác giả Carol McD. Wallace, Nhà xuất bản St. Martin Press, New York 1996")

Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

MỘT SỐ KỸ NĂNG BÉ ĐẠT ĐƯỢC THEO ĐỘ TUỔI

Theo từng độ tuổi, các kỹ năng của bé cũng dần phát triển thông qua các trò chơi.
1. Kỹ năng sử dụng bút chì màu
12 tháng: Bé có thể cầm một chiếc bút chì có thân lớn với cả bàn tay hoặc với ngón tay cái và các ngón trỏ, ngón giữa rồi di di bút trên giấy.
18 tháng: Khi thấy mẹ vẽ, bé sẽ bắt chước theo mẹ.
Hoc-to-mau-ky-nang-song-cho-tre-em.jpg
24 tháng: Bé vui thích cầm bút chì màu với một mảnh giấy và nghuệch ngoạc theo ý mình.
36 tháng: “Tài năng” nghệ thuật của bé bắt đầu “cất cánh”. Bé có thể tô màu theo một hình tròn, một hình vuông, tô hình người với các bộ phận trên cơ thể. Bé cũng có thể nhận diện được 3-4 màu sắc và biết tô chữ in hoa.
2. Kỹ năng chơi khối hình
12 tháng: Bé phát hiện ra mình có thể gây tiếng ồn bằng cách đập hai khối hình với nhau. Bé cũng thích phá đổ các hình tháp được dựng lên từ những khối hình.
18 tháng: Bé biết khéo léo xếp chồng các khối hình lên nhau. Bé có thể xếp cân bằng 2-3 khối hình lên một khối hình làm nền.
24 tháng: Thể chất tốt hơn nên các vận động tinh của bàn tay bé cũng khéo hơn. Bé có thể thành thạo xếp 4-7 khối hình chồng lên nhau mà không đổ. Bé còn biết xếp các khối theo phân loại màu sắc hoặc có thể liên tưởng một khối vuông là vật gì khác, ví dụ ôtô hay tàu hỏa.
36 tháng: Bé bây giờ có thể tạo ra nhiều thứ từ các khối hình và bằng sức tưởng tượng của mình, chẳng hạn lâu đài, cầu cống, đường hầm...
3. Kỹ năng ghép hình
12 tháng: Ở tuổi này, bé vui chơi với những miếng ghép bằng cách làm lộn xộn trên sàn. Bé cũng có thể dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ để nhấc miếng ghép ra khỏi khuôn hình.
18 tháng: Với sự giúp đỡ của cha mẹ, bé có thể đặt một miếng ghép lớn vào ô tương ứng.
choi-cung-con-tro-choi-phat-trien-tri-tue-ky-nang-song-cho-tre-em.jpg
24 tháng: Bé có thể đặt đúng 3 miếng ghép đơn giản.
36 tháng: Các kỹ năng giải quyết vấn đề của bé được nâng cao. Bé có thể đặt đúng 8 miếng ghép cơ bản.
4. Kỹ năng chơi bóng
12 tháng: Bé có thể ngồi trên sàn và lăn bóng qua – lại với bạn. Bé thậm chí có thể ném bóng, mặc dù chưa có mục tiêu hay mục đích cụ thể.
18 tháng: Các thao tác chơi với bóng của bé “chuyên nghiệp” hơn, ví dụ bé thích ném bóng cho mẹ rồi khi mẹ ném lại, bóng rơi xuống, bé sẽ chạy theo bắt bóng. Lúc này, bé cũng đủ nhận thức để phân biệt một quả bóng ngoài thực tế và một bức ảnh (tranh) có hình quả bóng.
24 tháng: Thể chất tốt khiến bé hào hứng hơn khi chơi với bóng. Bé biết đá bóng.
36 tháng: Cuối cùng, bé cũng có thể bắt được một quả bóng to. Bé cũng đã có thể đá bóng tới một mục tiêu nhất định.
5. Kỹ năng chơi nhạc cụ
12 tháng: Bé đập mạnh bất kỳ thứ nhạc cụ nào bé có trong tay từ trống, đàn piano tới các loại nhạc cụ đồ chơi khác.
18 tháng: Bé thích vỗ tay theo nhạc nhưng chớ vội mong bé có khả năng cảm thụ tinh tế với âm nhạc.
tri-tue-cam-xuc-tam-loai-tri-thong-minh-be-phat-trien-qua-vui-choi.jpg
24 tháng: Bé biết tạo ra những tiếng kêu du dương từ piano đồ chơi, đánh một cái trống hoặc rung (lắc) một loại nhạc cụ nào đó.
36 tháng: Nếu bé quan tâm tới âm nhạc thì bạn có thể bắt đầu xem xét tới việc cho bé tham gia một lớp học nhạc.
Theo Tri thức trẻ

10 BÍ QUYẾT ĐỂ TRONG NHÀ KHÔNG CÓ TIẾNG MẮNG TRẺ

Làm thế nào để kiểm soát sự tức giận của bản thân trước cảnh con làm đổ sữa ra bàn, con để quên ba lô khi đi học, hay con quên làm việc nhà?
Dưới đây là những cách đơn giản nhưng hiệu quả giúp phụ huynh giữ được bình tĩnh và tránh la mắng trước sai sót của trẻ:
1. Chuẩn bị sẵn sàng từ trước
Với hầu hết hoạt động liên quan đến trẻ, từ đưa đến trường mỗi sáng đến việc về thăm nội ngoại vào các ngày nghỉ lễ, điều tốt nhất bạn nên làm là chuẩn bị sẵn sàng từ trước. “Thông thường thì vấn đề nằm ở chỗ mọi người đều cần nhiều thời gian hơn”, tiến sĩ Eileen Kennedy-Moore, chuyên gia tâm lý và là đồng tác giả của cuốn Smart Parenting for Smart Kids đến từ Mỹ chia sẻ
Để giải quyết vấn đề này, hãy chuẩn bị cho bản thân sẵn sàng trước. Bằng cách đó, bạn không phải vừa trang điểm hoặc vừa tìm chìa khóa xe vừa thúc giục và hướng dẫn trẻ. Hãy dán danh sách những việc trẻ cần làm và thời điểm phải làm trên cửa phòng ngủ của trẻ để các bé dễ dàng tuân theo.
ky-nang-nuoi-day-con-ky-luat-khong-nuoc-mat-bi-quyet-thanh-cong-song-tich-cuc-binh-an.jpg
Ảnh: moms.popsugar.com.
2. Điều chỉnh kỳ vọng
Bạn có thể bảo với con trai đang ở tuổi mẫu giáo dọn dẹp phòng chơi mỗi ngày. Và 5 ngày đầu tiên thì cậu bé làm đúng lời dặn, nhưng sang ngày thứ 6 thì quên mất. Đó là bởi vì con bạn còn quá nhỏ chứ không phải bé cố tình tỏ ra chống cự, tiến sĩ Kennedy-Moore chia sẻ. Chính vì thế, việc bạn la mắng con trong tình huống này sẽ không mang lại hiệu quả.
Hơn ai hết, bạn là người hiểu rõ nhất khả năng của con, cho nên hãy đặt kỳ vọng phù hợp hoặc hơn một chút so với khả năng của con. Ví dụ, với con trai 5 tuổi bạn không nên yêu cầu sắp xếp sách và truyện của cậu bé gọn gàng trên giá mà chỉ nên đề nghị con không để chúng vương vãi trên sàn mà thôi.
3. Là một tấm gương tốt
Lần đầu tiên bạn nghe thấy con trai 10 tuổi la mắng em gái (đặc biệt khi cậu bé sử dụng chính những từ ngữ mà bạn thường sử dụng) thì cần hiểu rằng người đầu tiên và quan trọng nhất trẻ nhìn vào để học giao tiếp chính là bạn, Vicki Hoefle, chuyên gia về nuôi dạy con cái (Mỹ) chia sẻ. “Một ngày nào đó, trẻ sẽ nói với bạn theo cách mà bạn nói với trẻ”. Chính vì thế, hãy tự nhắc nhở bản thân phải làm gương cho con cái bằng cách sử dụng những từ ngữ và giọng điệu mang tính tôn trọng. Hãy thử âm thầm nhắc lại những gì bạn nói và sau đó tưởng tượng xem bạn sẽ cảm thấy thế nào nếu trẻ nói như thế với bạn.
4. Đưa ra cảnh báo công bằng
Đôi khi khó có thể kiểm soát việc la hét, nhưng nếu bạn biết mình sắp mất bình tĩnh “thì hãy cho trẻ biết điều đó và bảo trẻ ra khỏi phòng trước tiên”, bà Hoefle khuyến khích. Điều này sẽ dạy cho trẻ về trách nhiệm cá nhân đối với lời nói và hành động của bản thân. Nó cho trẻ thấy rằng tất cả chúng ta đều có lúc có những cảm xúc mạnh mẽ, nhưng vẫn phải tôn trọng cảm xúc của người khác.
5. Chuyển hướng tập trung
Bạn giận sôi lên khi bước vào bếp và thấy những chiếc giày thể thao nằm rải rác trên sàn, bồn rửa đầy bát đĩa bẩn? Trước khi la mắng con, hãy làm bản thân xao lãng, bà Hoefle chia sẻ. “Hãy luôn chuẩn bị cho mình một số chiến lược hay đồ vật có thể giúp bạn bình tĩnh lại, ví dụ bóp chặt một quả bóng, nhai kẹo cao su, hay ngắm một bức ảnh gia đình mà bạn thích”. Làm như vậy sẽ dập tắt “nhu cầu” la hét tức thời của bạn và giúp bạn lấy lại sự kiểm soát.
6. Ghi nhớ vai trò bản thân
Khi dùng đến sự la hét là bạn đang tự mình đánh mất phần nào uy lực của bản thân. “Một người cha/mẹ la hét con cái nghĩa là anh ấy/cô ấy đã hạ thấp mình xuống ngang hàng với anh chị em hoặc bạn bè của con”, tiến sĩ Kennedy-Moore chia sẻ. Bạn không thể yêu cầu con tôn trọng bằng cách la hét chúng, nhưng bạn có thể nhận được sự tôn trọng bằng cách cư xử như người có trách nhiệm một cách bình tĩnh và có kiểm soát.
7. Tập thói quen nói nhỏ
Dù không hề tức giận nhưng đôi khi bạn vẫn thấy mình to tiếng với con cái. Nếu bạn tự luyện cho mình thói quen nói năng nhẹ nhàng hơn thì sẽ ít có xu hướng la mắng hơn, tiến sĩ Kennedy-Moore cho biết. Để làm được điều này, hãy cố gắng chỉ nói chuyện hay trao đổi thông tin với các thành viên gia đình khi bạn đang ở cùng phòng với họ mà thôi.
8. Suy nghĩ như một giáo viên
“Người giáo viên tốt nhất không tức giận trước các hành vi sai trái của trẻ mà coi đó là một cơ hội học tập”, tiến sĩ Kennedy-Moore chia sẻ. Vì thế, nếu con bạn bỏ quên hộp đựng kem trống không trong tủ lạnh hay để quần áo mốc meo trong máy giặt thì hãy tự hỏi bản thân: Con cần học điều gì và làm thế nào để dạy được con? Ví dụ, có thể cậu bé/cô bé cần một tờ giấy nhỏ dán ở cửa tủ lạnh để nhắc nhở những việc phải làm hay một tờ giấy ghi hậu quả của quần áo để lâu không giặt.
9. Lại gần
Bạn thấy mình đứng từ dưới hét vọng lên cầu thang hay hét qua sân? Điều đó sẽ khiến trẻ dễ dàng lờ tịt những gì bạn muốn truyền tải và sẽ tạo thành vòng tròn luẩn quẩn là bạn hét, trẻ lờ đi, và bạn càng hét to hơn. “Các bậc cha mẹ thường chia sẻ với tôi rằng: ‘Tôi nói điều đó đến 14 lần rồi mà thằng bé không hề nghe theo”, tiến sĩ Kennedy-Moore chia sẻ. “Nguyên nhân là thằng bé đã lờ đi không thèm lưu ý đến lời quát mắng của cha mẹ. Nếu bạn nói một lần mà trẻ không làm theo thì hãy lại gần chỗ trẻ, yêu cầu trẻ chú ý, nhìn thẳng vào mắt trẻ và nói kiên quyết nhưng nhẹ nhàng”, bà khuyến khích.
10. Tưởng tượng có “khản giả” chứng kiến
Nếu bạn la mắng con trong lúc cửa sổ nhà mở toang thì rất có khả năng người khác nghe thấy. Hãy nghĩ kỹ về điều này. Sẽ ra sao nếu sếp của bạn, người bạn thân nhất, hay bà của bạn đang ở trong phòng với bạn lúc đó, bà Hoefle chia sẻ. Liệu bạn có la hét như thế không? “Chúng ta thường đối xử với những người yêu thương tệ hơn so với người quen”, tiến sĩ Kennedy-Moore cho biết.
Thanh Mai (theo womansday)
Theo VnExpress

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013

HỘI CHỨNG HIẾU ĐỘNG VÀ DỄ XAO NHÃNG CỦA TRẺ

Hấu hết trẻ đều có lúc trông như “hiếu động và lơ là” nhưng sự thật là sự lơ là và hiếu động là những dấu hiệu của hội chứng ADHD – rối loạn năng động, thiếu chú ý. Hội chứng chỉ xảy ra ở 1 đến 2 trẻ trong khoảng 20 trẻ dưới 12 tuổi. Trẻ bị hội chứng ADHD thường có biểu hiện thiếu tập trung, bốc đồng, hoạt động quá mức và không thể ngồi yên được. Chúng rất dễ bị xao nhãng, thường hành động 1 cách bốc đồng và gặp khó khăn trong việc tập trung khi lắng nghe hoặc theo dõi những sự kiện xảy ra quanh mình. Đồng thời chúng cũng gặp những vấn đề về giấc ngủ.
Đặc biệt khi con bạn đang chập chững biết đi, bạn có thể sẽ lo lắng khi sẽ có những biểu hiện của sự hiếu động nhưng nếu so sánh trẻ với những đứa bé khác ở cùng độ tuổi bạn sẽ nhận ra đó là biểu hiện thông thường của trẻ ở độ tuổi này. Ở vào giai đoạn từ 2 đến 3 tuổi trẻ thường rất hiếu động bốc đồng và thường dành thời gian cho việc tập trung rất ngắn. Tất cả trẻ đều trông có vẻ rất mau mắn và dễ bị sao nhãng. Ví dụ như khi chúng rất mệt hay rất hào hứng khi làm 1 việc gì đó đặc biệt hoặc trẻ lo đang lo lắng khi bị đặt ở 1 nơi lạ cùng những người lạ. Nhưng trẻ mắc hội chứng hiếu động thường có những biểu hiện hoạt động nhiều hơn dễ mất tập trung hơn và phấn kích hơn mức bình thường của những trẻ cùng lứa. Điều quan trong là những trẻ này trông có vẻ là không thể trật tự, im lặng được bất cứ ngày nào và thái độ của chúng sẽ tiếp diễn suốt những năm chúng đi học.
Mặc dù hầu hết với những trẻ hiếu động đều có trí tuệ bình thường, Chúng vẫn thường xuyên không biểu hiện tốt ở chương trình học. Đó là bởi chúng không thể tập trung hoặc theo dõi những chỉ dẫn ban đầu để hoàn thành bình thường. Chúng thường chậm hơn trong việc hình thành sự kìm chế tính bốc đồng và những cảm xúc của mình, Cũng như chậm hơn trong việc phát triển khả năng chú ý và tập trung. Khi ở độ tuổi thích hợp, chúng có xu hướng nói nhiều hơn, dễ bị xúc động, hay đòi hỏi, khó bảo và không tuân thủ mệnh lệnh hơn những đứa trẻ cùng tuổi. Hành vi của trẻ mắc hội chúng này thường sót lại sự không trưởng thành qua suốt thời thơ ấu và thời niên thiếu; chúng thường dẫn đến các rắc rối trong những việc mà chúng muốn làm ở nhà, ở trường và với bạn bè. Do không có được sự ủng hộ hay đối xử tử tế, trẻ bị hội chứng ADHD gặp khó khăn trong việc phát triển lòng tự trọng.
Hầu hết những trẻ bị hội chứng mất tập trung đều có các thành viên khác trong gia đình mắc căn bệnh tương tự, đó có lẽ là sự di truyền. Đôi khi triệu chứng có thể là vết tích còn sót lại của 1 căn bệnh về não hoặc sự cảm giác có hệ thống như viêm màng não, viêm não, hội chứng nhiễm độc còn của thai nhi hoặc trẻ bị đẻ non. Hầu hết trẻ bị hội chứng hiếu động thường không bị những căn bệnh nặng, tuy nhiên, hấu hết trẻ phải trải qua đau ốm để không có dấu hiệu hiếu động. Các bé trai thường có dấu hiệu mắc hội chứng ADHD nhiều hơn bé gái từ 2 à4 lần, không ai biết được nguyên nhân chính xác của sự khác biệt này.
Mặc dù đã có nhiều suy đoán rằng một số loại thực phẩm và chất phụ gia thực phẩm có liên quan đến ADHD, các nghiên cứu sâu rộng đã không chứng minh được có một sự liên quan đáng kể nào. trẻ em với những vấn đề này có xu hướng gợi ra sự tiêu cực, trừng phạt, và kiểm soát hồi đáp từ người lớn hoặc các bậc cha mẹ không thể hiểu được bản chất thật sự của tính hiếu động thái quá này. các trẻ em này, khi phải chịu sự chỉ trích nhiều, chỉ cảm thấy tiêu cực về mình.
bất kể các nguồn của sự hiếu động thái quá là gì, cách các vấn đề được nhận thức, hiểu, và giải quyết, và cách phụ huynh và giáo viên đáp ứng, có thể ảnh hưởng đến kết quả của đứa trẻ. bậc cha mẹ có cảm xúc lành mạnh và những người có kiến thức về nguyên tắc quản lý hành vi sẽ đạt được kết quả tốt nhất.
Khi nào phải gọi bác sĩ nhi khoa?
Quan sát con bạn cùng với những bé cùng độ tuổi trong khoảng một vài ngày hoặc vài tuần là cách tốt nhất để xác định nếu nó có xu hướng hiếu động thái quá. vì lý do này, những người chăm sóc cho trẻ ở trường mẫu giáo hoặc cô bảo mẫu có thể là nguồn thông tin tốt nhất của bạn. họ có thể cho bạn biết cách cư xử của bé trong một nhóm và liệu nó có hành vi nổi bật nào so với các trẻ khác ở cùng độ tuổi. Dấu hiệu cụ thể của ADHD bao gồm:
  • Khó khăn trong việc tập trung đến các hoạt động mà những đứa trẻ khác ở cùng độ tuổi của nó thích thú
  • Gặp khó khăn trong việc làm theo những chỉ dẫn dù đơn giản chỉ vì không chú ý
  • Bốc đồng, chẳng hạn như liên tục chạy vào đường phố mà không nhìn, dành đồ chơi của trẻ em khác, chạy qua các khu vực không được phép mà không cân nhắc hậu quả.
  • Những hoạt động vội vã không cần thiết, chẳng hạn như chạy và nhảy mà không có thời gian nghỉ ngơi
  • Những thể hiện tình cảm bất ngờ, như khóc, giận dữ la hét, đánh, hoặc thất vọng không hợp lý
  • Liên tục phạm lỗi vì không lắng nghe dù đã được nói "không" nhiều lần
Nếu bạn và những người khác nhận ra một vài trong những dấu hiệu cảnh báo diễn ra nhiều lần, phải tham khảo ý kiến bác sĩ nhi khoa của bạn. các bác sĩ sẽ tiến hành kiểm tra ADHD và sẽ xem xét cho con em để loại ra các nguyên nhân về bệnh lý, sau đó hoặc tiến hành kiểm tra thêm, hoặc giới thiệu bạn đến một bác sĩ nhi khoa hành vi phát triển, tâm lý học, hoặc bác sĩ tâm thần trẻ em cho một đánh giá chính thức hơn. nếu chuyên gia này xác định rằng con bạn mắc ADHD, các bác sĩ hay chuyên gia trị liệu có thể đề nghị một số chiến lược cụ thể cho việc quản lý hành vi của bé và có thể đề nghị bạn tìm hiểu về hệ thống các kỹ năng điều khiển hành vi của chính bạn, sử dụng liệu pháp hành vi/ đào tạo hành vi dành cho cha mẹ (xem thêm phần CÁCH ĐÁP ỨNG, dưới đây)
Việc sử dụng thuốc cũng có thể được đề nghị, tùy thuộc vào hiệu quả của các biện pháp trị liệu hành vi với bé. Trẻ ở tuổi chập chững và sắp đi học thay đổi rất nhanh, do đó những gì có vẻ như là vấn đề hành vi ở một thời điểm sẽ không còn nữa một vài tháng sau đó. Điều quan trọng là phải xem xét những hành vi diễn ra liên tục hơn sáu tháng.
Hãy ghi nhớ rằng thuốc chỉ được sử dụng trong những trường hợp nghiêm trọng, và chỉ sau khi đã thử các biện pháp kiểm soát hành vi của cha mẹ. thuốc ít khi được kê đơn cho trẻ em dưới ba tuổi. Học viện Nhi khoa Mỹ khuyên rằng trẻ em với ADHD nên có một bệnh sử toàn diện, lịch sử gia đình, và phải được khám sức khỏe trước khi bắt đầu điều trị bằng thuốc (đặc biệt, với loại gọi là thuốc "kích thích"). trong một số trường hợp, nếu bệnh sử hoặc kết quả kiểm tra thể chất đáng lo ngại, bác sĩ có thể tư vấn cho con bạn kiểm tra điện tâm đồ (một bài kiểm tra đo lường hoạt động của tim) trước khi kê đơn các loại thuốc này.
Là cha mẹ của một đứa trẻ với ADHD, bạn có thể nghe về phương pháp trị liệu "thay thế", phần nhiều vẫn chưa được chứng minh và một vài trong số đó không hiệu quả. nên Nói chuyện với bác sĩ nhi khoa của bạn trước khi cho con bạn áp dụng bất kỳ liệu pháp thay thế.
Cách phản ứng
Nếu con bạn có  dấu hiệu của ADHD, có nghĩa là bé không thể điều khiển hành vi của chính mình. Trong sự vội vàng và phấn khích của mình, bé có thể dễ gặp bị tai nạn hay phá hỏng các đồ vật. để chấn chỉnh một đứa trẻ hiếu động thái quá, bạn cần phải phản ứng một cách hiệu quả và mang tính xây dựng. Nếu biện pháp của bạn có hiệu quả, kết quả là hành vi của trẻ sẽ được cải thiện. Nếu biện pháp đó mang tính xây dựng, nó sẽ giúp phát triển lòng tự trọng của trẻ và làm cho bé dễ gần hơn. Phần tiếp theo (Biện pháp Kỷ luật hiệu quả- Effective Discipline) cung cấp một số ví dụ về phản ứng có hiệu quả và mang tính xây dựng cho những vấn đề thường gặp ở trẻ em hiếu động.
Điều quan trọng là phải phản ứng ngay lập tức bất cứ khi nào con bạn cư xử không đúng mực và để đảm bảo rằng tất cả mọi người xung quanh phản ứng lại với cùng một cách. kỷ luật có nghĩa là dạy bé cách tự kiểm soát. Nếu được thực hiện có hiệu quả, bạn sẽ ít khi cần phải sử dụng các hình phạt. Không nên đánh hay tát con bạn vì điều đó không khuyến khích nó kiểm soát bản thân mà có thể góp phần tạo nên một hình ảnh tiêu cực và oán hận về phía bạn, đồng thời, cách tiếp cận này nói với nó rằng chẳng có vấn đề gì khi tấn công người khác. Thay vào đó, xác định và chỉ ra những lần con bạn có những hành vi đúng mực ("nhận ra bé đang cư xử tốt"), và học cách chủ động bỏ qua những hành vi sai nhưng không nguy hiểm; phương pháp tiếp cận này có hiệu quả trong tương lai xa. trẻ em với ADHD có thể rất khó khăn để quản lý và phụ huynh có thể cần được giúp đỡ hay huấn luyện để có thể quản lý hiệu quả các hành vi của con em mình.

Sưu tầm từ BanCuaBe.org

BÍ QUYẾT GIÚP BÉ TỰ TIN

Nếu muốn con lớn lên trở thành người tự tin, mạnh mẽ, bạn đừng bao giờ đưa ra các nhận xét có tính chất tiêu cực về bé.

Đây là chia sẻ của Laura St John, một bà mẹ Mỹ 3 con, một nhà báo tự do, đồng thời cũng là người quản lý một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục trẻ trên trang parentables

bi-quyet-giup-tre-tu-tin-de-con-tu-tin-nghe-thuat-lam-cha-me-ky-nang-song-cho-tre-em.jpg
Đừng dán nhãn tiêu cực cho trẻ nếu muốn con tự tin

Nếu bạn muốn con trở thành đứa trẻ mạnh mẽ, tự tin, hãy thận trọng với các nhận xét về bé. Phần lớn chúng ta tự nhiên dán nhãn cho trẻ theo nhiều cách khác nhau: “bé thông minh lắm”, “bé thật nhút nhát”, “bé rất hiếu động”… Đặc biệt, người ta thường dễ gán ghép cho trẻ những đặc điểm tiêu cực hơn là tích cực. Trước khi sinh con, tôi từng chăm sóc hàng trăm trẻ mầm non và tôi rất sốc khi thấy các bậc phụ huynh ngang nhiên dán nhãn cho những đứa con của mình. Tôi nghĩ sẽ không bao giờ làm điều đó.

Những đứa trẻ sẽ phải làm thế nào để thay đổi đặc điểm mà người lớn đã gán cho chúng? Hiện tại, tôi có 3 đứa con rất khác nhau, và tôi biết rất khó khăn để không dán nhãn cho các bé. Tôi đã nhiều lần phải cắn lưỡi mình để tránh việc thốt ra những lời so sánh bọn trẻ với nhau. Và tôi đang sử dụng một chiến lược khá hiệu quả mà cha mẹ tôi đã áp dụng cho các chị em của mình.

Trở lại những năm 1970, cha mẹ tôi có một quyết định thú vị là sinh liền ba cô con gái trong vòng 3 năm. Khỏi cần phải nói, chúng tôi nhận được rất nhiều lời nhận xét mỗi khi đi đến đâu. “Ôi hãy nhìn những cô bé kìa”, mọi người thốt lên sau đó rồi họ bắt đầu hỏi: “Con bé này có vẻ nhút nhát nhỉ”, họ chỉ vào tôi và tiếp đó là: “Nuôi con bé này có vẻ vất vả nhỉ”.

Tuy nhiên, bố mẹ tôi luôn luôn đáp lại rằng: “Cả ba đứa đều ngoan, sáng tạo và thông minh. Chúng tôi thật may mắn”. Bố mẹ tôi đã “đánh lừa” chúng tôi và điều đó đã phát huy hiệu quả. Chị em tôi luôn cố gắng làm sao để bố mẹ mình đúng là những người may mắn như họ nghĩ. Tôi dám chắc rằng, chị em tôi ngày nay có thể trở thành những phụ nữ thành đạt, tự tin, mạnh mẽ chính là nhờ cái nhãn tích cực mà bố mẹ đã dán cho mình thời thơ ấu.

Để con trẻ tự tin, cha mẹ cần lưu ý:

Hãy để cho bé tình cờ nghe thấy những nhận xét tích cực của bạn

Được nghe lỏm những lời nhận xét tích cực về mình của cha mẹ sẽ giúp đứa trẻ mạnh mẽ hơn là được nghe trực tiếp. Bởi vì bằng cách này, đứa trẻ cảm thấy mình được cha mẹ tin tưởng hơn.

Xóa "nhút nhát" ra khỏi từ điển của bạn

Bạn càng phải chú ý nhiều hơn mỗi khi miêu tả bé bằng những từ có thể gây ra cả kết quả theo cách tiêu cực và tích cực, chẳng hạn “nhút nhát”. Khi tôi còn làm giáo viên, các phụ huynh trong buổi đầu đưa con đến lớp thường nói: “Bé nhút nhát lắm” và đứa trẻ sẽ được thể bám đu vào người bố mẹ, cúi đầu xuống và trở nên cực kỳ kém tự tin. Tất nhiên, sẽ có một số dè dặt hơn những đứa trẻ khác nhưng gán cho trẻ đặc tính này sẽ chỉ làm nó thêm thu mình vào trong vỏ ốc và càng khó khăn hơn để phá bỏ sự nhút nhát.

Giúp bé phá vỡ lớp băng trong môi trường mới

Nếu con bạn không thoải mái với những người mới hoặc môi trường mới, hãy cho bé cơ hội thoát ra khỏi vỏ ốc của mình bằng cách khuyến khích bé vượt qua những dè dặt lo lắng. Khi đi cùng bé đến một địa điểm mới, ví dụ công viên, hãy động viên bé nói chuyện với các bạn cùng lứa tuổi và những người lớn khác về những điều cụ thể mà bạn biết là bé rất hào hứng, ví dụ anh chị em của bé, các kỳ nghỉ, món đồ chơi hay hoạt động mà bé rất thích... Sau đó, vào buổi tối, bạn có thể bồi đắp sự tự tin của con bằng cách kể với người bạn đời hay người bạn thân: “Hôm nay, lúc chơi ở công viên, con bé đã thể hiện bản thân thật tuyệt. Bé đã kể với mẹ của một bạn về con chó mới của nhà mình. Em rất tự hào về cách con đã nói với cô ấy”.

Hãy chú ý cả đến những đứa trẻ khác

Hiện tại, tôi phải đối đầu với việc con trai hai tuổi được khen ngợi nhiều quá, ở bất cứ nơi nào chúng tôi đi qua. Những người lạ luôn luôn trầm trồ: “Ôi cậu bé đáng yêu quá”. Và tôi luôn phải chắc chắn rằng anh của bé cũng cảm thấy thoải mái bằng cách nói: “Vâng, cảm ơn anh chị. Cả ba cậu con trai của tôi đều dễ thương, thông minh và tất cả đều ngoan. Chúng tôi thật may mắn phải không?”.

Và tôi biết, cũng như bố mẹ tôi, tôi đang củng cố sự tự tin cho các con mình.

Theo VnExpress

MỌI VẬT ĐỀU CÓ GIÁ TRỊ

Có một bà lão gánh hai thùng nước, một thùng nguyên vẹn còn thùng kia có vết nức dài. Vết nức làm nước từ trong thùng chảy ra ngoài và khi tới nhà chỉ còn lại một na trong khi thùng kia nước vẫn còn nguyên vẹn.


Hai năm trôi qua ngày nào bà lão cũng gánh một thùng rưỡi nước khi tới nhà. Thùng nguyên vẹn luôn tự hào, trong khi thùng kia thì tủi thân vì sự khiếm khuyết của mình. Cuối cùng nó lấy hết can đảm để nói với bà lão rằng bởi vì vết nức này mà nước chảy ra ngoài và nó cảm thấy hổ thẹn. Bà lão cười và chỉ nó thấy những cánh hoa mọc bên lề đường nơi bên dưới của nó, điều này không có ở thùng bên kia. Sau đó bà nói: bởi vì thấy được sự khiếm khuyết này, nên bà đã gieo hạt giống hoa bên này mà không gieo bên kia và hàng ngày nó đã tưới làm xanh tốt những đóa hoa đó. Hai năm nay, nhờ sự rò rỉ này mà bà có những đóa hoa trên bàn ăn lúc nào cũng xinh đẹp và ngôi nhà lúc nào cũng đượm mùi hương.

Khuyết điểm có trong chúng ta, nhưng những cái ấy làm cuộc sống chúng ta đẹp đẽ và cao thượng hơn và hãy nhìn thấy sự tốt đẹp từ những khiếm khuyết đó, cũng như bài học của cái thùng này.


Sưu tầm

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ NHỎ

Sự phát triển của trẻ là một quá trình đa dạng và liên tục, đó là một tiến trình không đơn giản, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố trong cách nuôi dưỡng và chăm sóc. Trong sự phát triển của mình trẻ sẽ gặp nhiều yếu tố tác động gây ra những vấn đề trong các lĩnh vực như : 
Vận động, khả năng giao tiếp, ứng xử , và phát triển ngôn ngữ, điều này cần có sự quan tâm của bố mẹ để không làm cho tình trạng rối nhiễu trở nên nặng nề gây ra những trở ngại trong tiến trình phát triển của bé.

1.Vấn đề về phát triển vận động
Khi bé đã được 6 tháng đến 1 năm, thì khả năng vận động có một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển tâm lý của trẻ. Ở đây, ta nên hiểu rõ khái niệm về sơ đồ cơ thể (Schéma coporel /body scheme). Đó là sự nhận biết của trẻ về cơ thể mình, không chỉ là tên gọi mà còn là chức năng của các bộ phận trên cơ thể. Trẻ sẽ dần dần ý thức được sự hiện hữu của các bộ phận trên cơ thể và học cách làm chủ được sự vận động qua việc phối hợp giữa các bộ phận đó. Một bước quan trọng trong sự hình thành sơ đồ cơ thể là đến tháng thứ 7-8, trẻ bắt đầu nhìn thấy và chú ý đến hình ảnh của mình trong gương. Bố mẹ khi chơi với con, thường đặt ra những câu hỏi với con, đại loại như: tay đâu, mắt đâu, miệng đâu …và khi đứa trẻ chỉ đúng, thì được xem là có sự phát triển tốt. Đó là một cách đánh giá đơn giản khả năng ý thức của trẻ về sơ đồ cơ thể mình. Nhưng, chính sự phối hợp vận động của các bộ phận mới nói lên được khả năng phát triển của trẻ. Ngoài việc phối hợp giữa mắt, môi miệng thì các sự vận động sẽ dần dần phát triển theo thời gian, chúng ta sẽ xem xét theo các khả năng dưới đây:
Khả năng ngồi:
Trong thời gian đầu, vào tháng thứ 5 trẻ chỉ có khả năng ngồi yên, và phải chống bằng 2 tay dưới sự giúp đỡ của người lớn. Sau đó sẽ có thể vận động hai tay và cái đầu. Khi đến tháng thứ 8, trẻ sẽ làm chủ hoàn toàn được khả năng ngồi và dễ dàng chuyển sang các tư thế khác.
Khả năng sử dụng bàn tay:
Trẻ có khả năng cầm nắm các đồ vật từ tháng thứ 6 và qua tháng thứ 7 thì biết chuyển các món đồ từ tay này sang tay kia. Đến tháng thứ 8 thì biết dùng 2 ngón tay cái và tay trỏ để kẹp đồ vật. Trong lứa tuổi này, trẻ sẽ bắt đầu có sự bộc lộ rõ rệt khả năng thuận tay phải hay tay trái của mình.
Khả năng trườn và bò:
Từ tháng thứ 4 trẻ đã có thể ngẩn đầu và tập trườn nhưng đến tháng thứ 8 trẻ mới có khả năng tự lật để trườn và chống hai cánh tay, hai cẳng chân lên để bắt đầu bò. Có một số trẻ không trải qua giai đoạn này, ta gọi là bỏ bò hay trốn bò, từ tư thế ngồi trẻ sẽ đứng thẳng và tập đi luôn, đây cũng là một hiện tượng bình thường. Nhưng vẫn cần phải lưu ý về sự phát triển ngôn ngữ sau đó.
Khả năng đứng:
Khi đến tháng thứ 9, trẻ sẽ học cách đứng lên. Ban đầu có thể phải vịn vào tay người mẹ hay một món đồ nào đó, dần dần sẽ có khả năng đứng một mình. Vào giai đoạn này, sự an toàn cho trẻ trong phạm vi gia đình cần được bố mẹ lưu tâm. Trẻ chưa có ý thức về sự giới hạn và nguy hiểm, nên có thể bỏ vào miệng bất cứ thứ gì và có khả năng té ngã rất cao.
Vì vậy, luôn phải có một người để mắt đến trẻ hay trẻ phải ở trong một cái cũi có các chấn song bằng gỗ hay mây, để trẻ vịn khi đứng và nếu có ngã vào cũng không nguy hiểm nếu so với chấn song bằng kim loại. Tuy nhiên, khi đã biết chắc là trẻ đã ở trong phạm vi an toàn thì chúng ta nên để trẻ tự do vận động và khám phá, những cú ngã hay sự đau đớn không quá nặng sẽ giúp trẻ biết rút kinh nghiệm để hoàn thiện hơn khả năng vận động của mình.
Trong khi cho trẻ ăn, việc giao tiếp bằng ánh mắt và lời nói giữa mẹ và con là rất cần thiết, bà mẹ (hay người cho trẻ ăn) nên ngồi đối diện nếu cho trẻ ngồi trên ghế ăn. Khi vừa bế vừa cho trẻ ăn thì nên ở trong tư thế đối mặt, hoặc tạo điều kiện sao cho trẻ thấy được khuôn mặt của mẹ, nụ cười, ánh mắt yêu thương, cái miệng chuyển động và những lời nói êm dịu sẽ được trẻ “hấp thụ” kèm theo những muỗng thức ăn. Điều này giúp cho trẻ được nuôi dưỡng cả thể xác lẫn tâm hồn và có vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ sau này của trẻ.
Khi trẻ đã đứng được trên hai chân mình, thì đây là giai đoạn bắt đầu cho một tiến trình tự khẳng định mình, trẻ bắt đầu phân biệt giữa cái tôi và những người xung quanh. Một mặt, trẻ ý thức được sự ràng buộc giữa bản thân và người mẹ, vẫn bám mẹ nhưng mặt khác đã có những dấu hiệu cho thấy ý hướng tách rời khỏi sự bế bồng của mẹ, trẻ muốn tự mình bước đi, tìm cách đẩy tay người mẹ ra để tự đứng trên đôi chân dù chưa vững vàng.
Trẻ đã ý thức được cái tôi khi biết rằng, nếu kêu lên thì mẹ sẽ đến, khóc thì sẽ được chú ý, cười thì sẽ được hưởng ứng và nếu nắm lấy một món đồ chơi rung lên, nó sẽ phát ra tiếng động, nếu nắm một sợi dây cột một món đồ rồi kéo đến, nó sẽ lại gần trong tầm tay. Trẻ cũng sẽ biết rằng, mẹ có thể đi ra khỏi tầm nhìn của mình nhưng rồi mẹ sẽ trở lại, một món đồ có thể bị che đi nhưng vẫn không bị mất mà có thể thấy lại được. Đây cũng là những yếu tố để đánh giá khả năng phát triển của trẻ và cũng là cơ sở để mẹ hay người chăm sóc đưa ra các trò chơi với cấp độ thích hợp.
Như vậy, ban đầu những cử động đầu tiên của trẻ chỉ là những xung động tràn lan, không phân biệt tay chân và không có mục đích, sau đó trẻ dần dần hình thành những vận động có phân định vào một bộ phận rõ rệt (tay sờ, nắm, cầm, ném…chân co duỗi, bước đi, đá…) rồi sau đó là những hoạt động mang tính phối hợp có chủ đích rõ ràng và các chuỗi hành động này gọi là hoạt động có định hướng.
Những ý thức này khiến cho phạm vi hoạt động của trẻ được mở rộng, bà mẹ nên tạo điều kiện cho trẻ được phát huy khả năng tự chủ ngày càng nhiều hơn. Chúng ta nên nhớ: Trẻ phải xa lìa khỏi mẹ trước 3 tháng là quá sớm, nhưng trẻ chỉ xa lìa mẹ sau một năm là quá muộn. Vì vậy, nếu không vì hoàn cảnh bắt buộc, thì không nên gửi con đi nhà trẻ trước 3 tháng tuổi, và cũng không nên giữ con ở nhà mà không cho con đi nhà trẻ khi con đã hơn 1 tuổi.
Tam-ly-tre-em-ky-nang-song-cho-tre-nho-cha-me-choi-cung-con-do-van-dai.jpg

2.Những vấn đề về khả năng giao tiếp -phát âm
Giai đoạn từ 1 đến 3 tuổi được xem là một giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ, từ một trẻ sơ sinh, khả năng quan sát và vận động còn nhiều hạn chế, với sự phát triển khá nhanh trẻ đã biết đi từ những bước chập chững trong năm đầu cho đến khi có thể chạy lon ton vào năm 3 tuổi. Phạm vi quan sát được mở rộng nhờ khả năng di chuyển, nên trẻ tiếp thu nhiều thông tin bằng mọi giác quan và cũng chịu nhiều tác động cả tốt lẫn xấu đến từ bên ngoài.
Trẻ bắt đầu có khả năng hình dung và tưởng tượng, biết dùng vật này thay cho vậy khác (dùng các khối gỗ để tưởng tượng thành chiếc xe hay cái tủ…) Trẻ biết chơi bên cạnh nhau, bắt chước nhau nhưng chưa có khả năng cộng tác hay phối hợp để cùng chơi với nhau.
Trong lứa tuổi này, trẻ có khả năng hiểu những mệnh lệnh đơn giản, có thể đưa tay chỉ điều mình muốn, hay nắm tay người lớn để yêu cầu lấy cho một vật gì, và bắt đầu phát âm từ những âm, tiếng rời rạc, dần dần thành những câu ngắn, ba – bốn từ.
Lúc đầu còn ngọng nghịu, dần dần sẽ rõ hơn nhưng có thể còn sai ngữ pháp, chúng ta cũng không nên bắt trẻ phải nói chính xác, nhưng cũng không nên bỏ qua những câu nói ngọng khiến trẻ quen với cách nói sai, lớn lên sẽ khó điều chỉnh.
Vì thế, khi nói với trẻ cần nói ngắn gọn, rõ ràng trẻ sẽ học theo đó để tự điều chỉnh.
Tình trạng nói lắp và nói ngọng
Nên phân biệt giữa nói ngọng  nói lắp. Nói ngọng là nói sai các phụ âm đầu như L thành N ( long lanh thành nong nanh ) hay ngược lại. Việc nói ngọng thường là do nghe cha mẹ, người xung quanh nói sai rồi bắt chước, lâu ngày thành một cố tật khó sửa, có những địa phương rất nhiều người nói ngọng giống nhau. Đây là một tác động mang tính địa phương, rất khó thay đổi hay điều chỉnh mà chỉ có thể làm giảm nhẹ.
Còn nói lắp là một tật chứng, thường do trẻ không đủ vốn từ để diễn tả nên cứ lập đi lập lại một vài từ đầu câu : con..con..con …muốn ăn, có khi chỉ nói lắp một từ đầu, có khi nói lắp nhiều từ trong một câu. Khi trẻ bắt đầu nói sẽ lắp bắp tìm chữ và thường tự thúc hối nói cho nhanh những gì mình đang nghĩ ra mà chữ thì không có sẵn. Hiện tượng này thường tự khỏi khi trẻ lớn lên có đủ vốn từ. Trong những trường hợp nói lắp kéo dài sau 12 tháng, có thể là do sự phát triển không bình thường của não bộ. Ngoài ra nói lắp cũng có thể do một khúc mắc nào đó giữa trung tâm ngôn ngữ trong não bộ và hệ cơ của môi lưỡi và hộp phát âm. Do đó có sự trục trặc trong việc sắp xếp câu cú. Trong trường hợp nhẹ, chỉ cần sự quan tâm và điều chỉnh theo những biện pháp dưới đây, còn trong trường hợp nặng phải có sự can thiệp của các nhà chuyên môn về tâm lý và chỉnh âm.
Tình trạng Chậm nói
Khi một trẻ đã đi được mà chưa nói được những câu đơn giản, ta có thể xem đó là tình trạng Chậm nói. Đây là một biểu hiệu cho biết trẻ có thể có những khó khăn về phát triển (Chậm Khôn) về vận động (Hiếu động kém chú ý) hay có những khó khăn trong quan hệ ứng xử (Tự kỷ) vì vậy, việc nhận biết một trẻ chậm nói là điều dễ dàng, nhưng để xác định là trẻ có những khó khăn về phương diện gì, và nhất là để chẩn đoán mức độ nặng/nhẹ của trẻ thì phải được sự thăm khám nhiều lần của những nhà chuyên môn về tâm lý phát triển.
Khi phát hiện những trở ngại về ngôn ngữ, như chậm nói, nói lắp, nói ngọng… chúng ta cần đưa trẻ đến các nhà chuyên môn về tâm lý để có những điều chỉnh kịp thời. Nhưng nên nhớ rằng chính những giao tiếp đúng cách tại gia đình mới là những yếu tố tích cực đem lại hiệu quả cho sự tiến bộ của trẻ, chứ không phải là những liệu pháp thần kỳ của các chuyên viên mà bố mẹ có thể “khoán trắng” cho họ.
Phân biệt các tình trạng chậm nói:
          Có nhiều người coi việc chậm nói là một tình trạng và thường cho rằng đó là hậu quả của việc thiếu quan tâm chăm sóc của bố mẹ. Điều đó tuy không sai nhưng đó chỉ là một khía cạnh trong nhiều khía cạnh khác nhau của sự chậm nói.
            Chúng ta nên biết rằng, ngoài những tình trạng như hội chứng Tự Kỷ, Hiếu động kém chú ý, Chậm khôn… đều có biểu hiện là chậm nói, thì các trẻ có tình trạng trầm cảm, lo hãi hay hung hăng, thích gây hấn cũng có tình trạng chậm nói, nhưng nguyên nhân gây ra sự chậm nói của các trẻ này lại khác với các trẻ Tự Kỷ, Hiếu động và vì thế biện pháp can thiệp, tập luyện cũng khác biệt. Như thế, việc chậm nói có thể do các nguyên nhân:
1.Chậm nói do kém phát triển về trí khôn, có khó khăn về khả năng nghe hay khó khăn về khả năng phát âm
2.Chậm nói do không phát triển được về khả năng giao tiếp ứng xử,có khó khăn trong sự chú ý, có tình trạng hiếu động.
3.Chậm nói do không muốn nói vì tình trạng lo hãi, trầm cảm, có ác cảm với những người xung quanh.
Vì thế, cần phải xác định được đâu là nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng chậm nói cho trẻ. Từ đó mới có thể áp dụng những phương pháp can thiệp thích hợp.

3.Những vấn đề về ứng xử & tính tự chủ
Đa số trẻ trong độ tuổi này, nhất là các bé trai đều có tác phong hiếu động, thích cầm nắm, đụng tay vào mọi vật và chưa có khả năng tập trung chú ý vào một việc gì lâu trên 10 phút. Trẻ dễ bị kích thích và dễ kích động, điều quan trọng là trẻ bắt đầu biết phân biệt giũa bản thân và người khác. Chính vì vậy, để chứng minh cho khả năng tự chủ, trẻ thường hay từ chối các yêu cầu của người khác mà đôi khi chính trẻ cũng không hiểu rõ đó là yêu cầu gì, cứ nói không cái đã. Nếu không hiểu, chúng ta có thể gây ra những căng thẳng hay ức chế cho trẻ vì cho rằng đó là thái độ cứng đầu, khó bảo hay không chịu nghe lời (vì không tập trung vào chuyện ghi nhớ các mệnh lệnh) và dẫn đến sự trừng phạt không hợp lý.
Cũng có người cho rằng trẻ rất ích kỷ, chỉ biết có mình nhưng thực ra đây là bản tính ái kỷ, đó là một tiến trình phát triển tự nhiên. Ái kỷ là hay nói đơn giản là thái độ chỉ quan tâm đến những nhu cầu của bản thân và chưa nhận biết được tính đạo đức trong các hành vi, cái gì mà trẻ đã nắm trong tay thì cái đó là của trẻ và trẻ không muốn chia sẻ những cái gì mình có. Vì điều đó, trẻ bắt đầu có những va chạm với những quy định và sự giới hạn hoạt động, gây ra những xung đột với những trẻ khác và người trong nhà. Vì thế chúng ta phải giúp trẻ có ý thức trong 3 phạm vi mang tính sở hữu:
-Khu vực được tự do: (đáp ứng các nhu cầu cá nhân, và vui chơi trong một khu vực nhất định ), trẻ cần có một khu vực “oanh kích tự do” có thể làm mọi điều miễn là được bố trí các biện pháp an toàn ( trải thảm hay nệm mỏng, không có các cạnh bàn, cạnh tủ nguy hiểm, không có ổ cắm điện…) Đây là phòng của trẻ hay một góc phòng ngủ, phòng sinh hoạt chung của gia đình.
Khu vực có thể: (sử dụng các món đồ và chơi trong các khu vực được phép khi có mặt người lớn). Đây là phần lớn các khu vực trong nhà, như phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn, khi trẻ chơi cần có sự cho phép và lưu ý của người lớn.
Khu vực không được phép: (không được chạm vào các món đồ quý hay có thể nguy hiểm cho trẻ, không được chơi trong các khu vực cấm…) Đây có thể là nhà bếp, phòng tắm …Trẻ chỉ có thể vào các nơi này khi có mặt người lớn.
Ý thức được các phạm vi sở hữu này rất cần thiết, một mặt giúp cho trẻ phát triển và tự do hoạt động ở khu vực được phép, mặt khác trẻ sẽ biết được những giới hạn để tuân theo các yêu cầu của người lớn. Điều này sẽ có tác dụng khi trẻ đi vào các khu vực công cộng, trẻ sẽ chấp nhận sự ngăn cấm của bố mẹ mà không dở trò ăn vạ, tự ý làm những trò phá rối hay gây nguy hiểm cho bản thân.
4.Trở ngại về quan hệ ứng xử:
Đôi khi có những trẻ không có một khuyết tật nào về các giác quan, trông bề ngoài rất bình thường, khỏe mạnh nhưng lại có những vấn đề rối nhiễu về nhận thức, giao tiếp và hành vi mà tiêu biểu là hội chứng rối loạn hiếu động kém chú ý, tình trạng tự kỷ và các vấn đề chậm trễ về ngôn ngữ.
Có thể nói, những trở ngại về quan hệ ứng xử, về hành vi tương tác là những trở ngại phức tạp và khó khắc phục nhất, điều này thường khó tạo được sự chấp nhận của phụ huynh vì thế họ thường dễ rơi vào hai thái độ tiêu cực: Quá bi quan về tình trạng con mình, tìm kiếm một cách mù quáng những biện pháp chăm chữa khác nhau và thường xuyên đau khổ, dằn vặt bản thân cũng như những người xung quanh. Hay sẽ có thái độ coi thường, đánh giá thấp những vấn đề của trẻ, không nhìn ra những nhu cầu đặc biệt của trẻ, thờ ơ trước những phương pháp giáo dục đặc biệt mà cứ cố gắng tạo ra một ảo tưởng là trẻ sẽ có khả năng phát triển bình thường sau một thời gian nữa, khi trẻ lớn khôn hơn vì thế vẫn cứ cố gắng gán ghép trẻ theo học các trường lớp bình thường mà không kèm theo một biện pháp chăm sóc nào khác.
Các trở ngại về quan hệ ứng xử cũng khó có được sự chấp nhận và thông cảm của những người xung quanh, mọi người thường dễ xúc động trước hình ảnh của một trẻ khuyết tật về thể chất, các trẻ này dễ gợi lên cho họ một sự quan tâm, những tình cảm yêu thương vì tội nghiệp, từ đó có rất nhiều trường học, trung tâm, cơ sở chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật. Còn với những trẻ như Tự kỷ, hiếu động …thì đôi khi lại khiến mọi người khó chịu vì các hành vi thiếu ổn định của trẻ và đưa đến tình trạng khó chấp nhận sự hòa nhập của các em với cộng đồng, và việc dạy dỗ để giúp trẻ phát triển và thay đổi hành vi là điều rất khó khăn đòi hỏi những trang thiết bị chuyên biệt cũng như trình độ chuyên môn của giáo viên, chuyên viên. Vì thế nhu cầu được giáo dục, chăm sóc của các em thường chỉ đè nặng lên đôi vai của bố mẹ.
Hiện nay, mô hình các câu lạc bộ phụ huynh trẻ Tự kỷ, hiếu động … là những hoạt động tích cực, tạo ra những năng lực cho các phụ huynh có thêm sự chia sẻ, động viên và nâng cao nhận thức. Tuy nhiên, phụ huynh cũng cần cảnh giác trước tình trạng có nhiều người chỉ sau một thời gian mày mò tìm hiểu các phương pháp giáo dục cho con mình, qua đó tự giúp cho con mình có được một số tiến bộ … nay lại đóng vai một chuyên gia, tận dụng các phương tiện truyền thông để đưa ra những chẩn đoán không có cơ sở khoa học và giới thiệu những biện pháp trị liệu tốn kém mà chưa biết rõ hiệu quả đến đâu. Chúng ta nên biết rằng, khác với những khuyết tật về thể lý, hay các tình trạng như Chậm khôn, bại não mà những phương pháp phục hồi chức năng, những nguyên tắc giáo dục đặc biệt đều có thể áp dụng cho các trẻ em có những trở ngại tương tự nhau. Các trẻ có vấn đề về quan hệ ứng xử như Tự Kỷ, hiếu động… là những vấn đề hoàn toàn cá biệt, không có một trẻ Tự Kỷ nào có những vấn đề, khả năng và nhu cầu giống với một trẻ tự kỷ nào. Việc xây dựng một kế hoạch trị liệu là phải dựa vào những khả năng và tình trạng riêng biệt của trẻ đó. Ngoài ra, việc vận dụng các nền tảng lý luận và đưa vào ứng dụng là trách nhiệm của các nhà chuyên môn (Bác sĩ, chuyên viên tâm lý) đã qua đào tạo và kinh nghiệm lâm sàng nhiều năm chứ không thể dựa vào kinh nghiệm bản thân trong việc giáo dục cho con mình để phổ biến như một phương pháp giáo dục đại trà. Vì thế trong tiến trình can thiệp luôn phải có sự phối hợp chặt chẽ với giữa gia đình và các nhà chuyên môn, việc mày mò tìm kiếm các thông tin trên mạng, qua sách báo chỉ nên xem là những tham khảo vì phải xác định được phương hướng và mục tiêu chủ yếu cho hoạt động can thiệp, để tránh sự lãnh phí thời gian. 
Cv.Tl LÊ KHANH

Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2013

TRÒ CHƠI RÈN TƯ DUY CHO TRẺ 4 TUỔI

Cho trẻ 5 khối hình gồm: tròn, tam giác, vuông, hình bình hành, ngôi sao, và năm lỗ trống tương ứng với năm hình. Sau đó yêu cầu bé xếp các hình vào các lỗ cho phù hợp. Trò chơi này giúp trẻ phát triển tư duy trực quan - hình tượng.
Thạc sĩ tâm lý Nguyễn Thị Minh, giảng viên học Viện Hành chính Quốc gia TP HCM cho biết, sau 3 tuổi, tư duy trực quan hành động của trẻ tiếp tục phát triển. Khi lên 4 tuổi, bé bắt đầu trải qua một bước ngoặt cơ bản về tư duy. Đó là việc chuyển từ tư duy hành động định hướng bên ngoài thành những hành động định hướng bên trong não, chuyển từ kiểu tư duy bằng tay (trực quan - hành động) của thời kỳ ấu nhi sang tư duy trực quan - hình tượng (hình ảnh).
Tro-chơi-phat-trien-tri-tue-cho-tre-4-tuoi-ky-nang-lam-cha-me.jpg

Khi lên 4 tuổi, trẻ biết tư duy trực quan - hình tượng nên những trò chơi lắp ghép theo nhiệm vụ nhất định sẽ giúp các em phát triển khả năng tư duy, tưởng tượng

Đặc điểm của kiểu tư duy trực quan - hình tượng là việc giải quyết nhiệm vụ đặt ra không chỉ được thực hiện bằng phép thử bên ngoài với các vật thật nữa. Thay vào đó, các em biết thực hiện cả phép thử ngầm trong óc dựa vào hình ảnh, biểu tượng về đồ vật hay về hành động với đồ vật mà trẻ đã làm hay nhìn thấy người khác làm. Từ đó, trẻ có thể suy nghĩ về những sự vật mà trẻ không trực tiếp tri giác, không trực tiếp tác động.
Người lớn có thể quan sát và rèn luyện khả năng tư duy ở trẻ qua các trò chơi sau:
Trò chơi 1: Bé được giao nhiệm vụ lấy một trái banh trong gầm tủ. Lúc này, trẻ sẽ động não và thực hiện phép thử trong đầu là dùng một vật dài để khều nó ra. Sở dĩ các em có được suy nghĩ đó là nhờ kết quả của việc lặp đi lặp lại tư duy trực quan hành động với đồ vật (cụ thể là trái banh, cái cây dài) trước đó.
Trò chơi 2: Cho trẻ 5 khối hình tròn, tam giác, vuông, bình hành, ngôi sao và năm lỗ trống tương ứng với năm hình. Nhiệm vụ của bé là xếp các hình vào các lỗ cho phù hợp. Lúc này, trẻ mẫu giáo sẽ tiến hành ướm thử trong đầu các hình ảnh của các khối hình và hành động theo hướng mà mình đã suy nghĩ .
Trò chơi 3: Đặt ra một bài toán: có một thanh gỗ, điểm giữa được gắn vào trục để có thể xoay hoặc đẩy được, một đầu ở xa có gắn đồ chơi. Yêu cầu trẻ ngồi ở phía gần mà làm thế nào lấy được món đồ chơi đó. Trẻ sẽ suy nghĩ một lúc rồi lấy tay ấn đầu thanh gỗ ở gần xuống, và đồ chơi cũng lăn xuống theo. Khi hỏi tại sao lại làm vậy, trẻ sẽ trả lời: “Cháu thấy nó giống cái bập bênh, cứ ấn đầu bên này lên thì đồ chơi ở bên kia sẽ lăn xuống”.
Sở dĩ tư duy trực quan - hình ảnh phát triển là do trẻ hành động lặp lại với đồ vật nhiều lần, dần dần nhập tâm thành biểu tượng trong đầu. Chẳng hạn, trong trò chơi đóng vai, trẻ biết dùng vật này thay thế cho vật khác và hành động với vật thay thế y như vật thật. Đó là hành động mang tính ký hiệu tượng trưng, hành động rút gọn, là cơ sở để phát triển tư duy trực quan hình ảnh.
Ở đầu thời kỳ mẫu giáo, tư duy của các em mang tính trực quan hình tượng nên trẻ khó giải được bài toán dưới hình thức trừu tượng, ví dụ khó giải bài toán 2+3 nếu không được nhìn sự vật cụ thể (hai quả táo, hai bông hoa…).
Giữa thời kỳ mẫu giáo, trẻ phát triển mạnh khả năng ký hiệu hóa, từ đó xuất hiện kiểu tư duy trực quan sơ đồ. Thực chất, nó vẫn thuộc kiểu tư duy trực quan hình tượng nhưng khái quát hơn và là một bước trung gian để chuyển sang tư duy trừu tượng.
Trẻ cuối tuổi mẫu giáo có khả năng hiểu một cách dễ dàng và nhanh chóng cách biểu diễn sơ đồ, đồng thời sử dụng hiệu quả những sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật. Chẳng hạn, trẻ có thể nhìn vào sơ đồ tìm ra một địa chỉ nào đó một cách dễ dàng. Điều này cho thấy trẻ có khả năng đọc được sơ đồ và giải mã. Hoặc khi được yêu cầu tìm đường đi đến một nơi nào đó, trẻ chỉ cần vẽ một số vạch chủ yếu, tức là trẻ đã nắm được kỹ năng sơ đồ hoá (ký mã).
Dựa vào những đặc điểm tư duy trên, người lớn có thể cho trẻ tham gia vào các trò chơi dưới dạng bài tập: Thỏ con đi lạc và cần tìm đường đi ngắn nhất để về đến nhà dưới dạng sơ đồ. Hoặc cũng có thể yêu cầu bé xác định vị trí và phương hướng giữa các đồ vật với nhau.
Theo VnExpress