Hiển thị các bài đăng có nhãn tâm lý trẻ em. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tâm lý trẻ em. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013

HỘI CHỨNG HIẾU ĐỘNG VÀ DỄ XAO NHÃNG CỦA TRẺ

Hấu hết trẻ đều có lúc trông như “hiếu động và lơ là” nhưng sự thật là sự lơ là và hiếu động là những dấu hiệu của hội chứng ADHD – rối loạn năng động, thiếu chú ý. Hội chứng chỉ xảy ra ở 1 đến 2 trẻ trong khoảng 20 trẻ dưới 12 tuổi. Trẻ bị hội chứng ADHD thường có biểu hiện thiếu tập trung, bốc đồng, hoạt động quá mức và không thể ngồi yên được. Chúng rất dễ bị xao nhãng, thường hành động 1 cách bốc đồng và gặp khó khăn trong việc tập trung khi lắng nghe hoặc theo dõi những sự kiện xảy ra quanh mình. Đồng thời chúng cũng gặp những vấn đề về giấc ngủ.
Đặc biệt khi con bạn đang chập chững biết đi, bạn có thể sẽ lo lắng khi sẽ có những biểu hiện của sự hiếu động nhưng nếu so sánh trẻ với những đứa bé khác ở cùng độ tuổi bạn sẽ nhận ra đó là biểu hiện thông thường của trẻ ở độ tuổi này. Ở vào giai đoạn từ 2 đến 3 tuổi trẻ thường rất hiếu động bốc đồng và thường dành thời gian cho việc tập trung rất ngắn. Tất cả trẻ đều trông có vẻ rất mau mắn và dễ bị sao nhãng. Ví dụ như khi chúng rất mệt hay rất hào hứng khi làm 1 việc gì đó đặc biệt hoặc trẻ lo đang lo lắng khi bị đặt ở 1 nơi lạ cùng những người lạ. Nhưng trẻ mắc hội chứng hiếu động thường có những biểu hiện hoạt động nhiều hơn dễ mất tập trung hơn và phấn kích hơn mức bình thường của những trẻ cùng lứa. Điều quan trong là những trẻ này trông có vẻ là không thể trật tự, im lặng được bất cứ ngày nào và thái độ của chúng sẽ tiếp diễn suốt những năm chúng đi học.
Mặc dù hầu hết với những trẻ hiếu động đều có trí tuệ bình thường, Chúng vẫn thường xuyên không biểu hiện tốt ở chương trình học. Đó là bởi chúng không thể tập trung hoặc theo dõi những chỉ dẫn ban đầu để hoàn thành bình thường. Chúng thường chậm hơn trong việc hình thành sự kìm chế tính bốc đồng và những cảm xúc của mình, Cũng như chậm hơn trong việc phát triển khả năng chú ý và tập trung. Khi ở độ tuổi thích hợp, chúng có xu hướng nói nhiều hơn, dễ bị xúc động, hay đòi hỏi, khó bảo và không tuân thủ mệnh lệnh hơn những đứa trẻ cùng tuổi. Hành vi của trẻ mắc hội chúng này thường sót lại sự không trưởng thành qua suốt thời thơ ấu và thời niên thiếu; chúng thường dẫn đến các rắc rối trong những việc mà chúng muốn làm ở nhà, ở trường và với bạn bè. Do không có được sự ủng hộ hay đối xử tử tế, trẻ bị hội chứng ADHD gặp khó khăn trong việc phát triển lòng tự trọng.
Hầu hết những trẻ bị hội chứng mất tập trung đều có các thành viên khác trong gia đình mắc căn bệnh tương tự, đó có lẽ là sự di truyền. Đôi khi triệu chứng có thể là vết tích còn sót lại của 1 căn bệnh về não hoặc sự cảm giác có hệ thống như viêm màng não, viêm não, hội chứng nhiễm độc còn của thai nhi hoặc trẻ bị đẻ non. Hầu hết trẻ bị hội chứng hiếu động thường không bị những căn bệnh nặng, tuy nhiên, hấu hết trẻ phải trải qua đau ốm để không có dấu hiệu hiếu động. Các bé trai thường có dấu hiệu mắc hội chứng ADHD nhiều hơn bé gái từ 2 à4 lần, không ai biết được nguyên nhân chính xác của sự khác biệt này.
Mặc dù đã có nhiều suy đoán rằng một số loại thực phẩm và chất phụ gia thực phẩm có liên quan đến ADHD, các nghiên cứu sâu rộng đã không chứng minh được có một sự liên quan đáng kể nào. trẻ em với những vấn đề này có xu hướng gợi ra sự tiêu cực, trừng phạt, và kiểm soát hồi đáp từ người lớn hoặc các bậc cha mẹ không thể hiểu được bản chất thật sự của tính hiếu động thái quá này. các trẻ em này, khi phải chịu sự chỉ trích nhiều, chỉ cảm thấy tiêu cực về mình.
bất kể các nguồn của sự hiếu động thái quá là gì, cách các vấn đề được nhận thức, hiểu, và giải quyết, và cách phụ huynh và giáo viên đáp ứng, có thể ảnh hưởng đến kết quả của đứa trẻ. bậc cha mẹ có cảm xúc lành mạnh và những người có kiến thức về nguyên tắc quản lý hành vi sẽ đạt được kết quả tốt nhất.
Khi nào phải gọi bác sĩ nhi khoa?
Quan sát con bạn cùng với những bé cùng độ tuổi trong khoảng một vài ngày hoặc vài tuần là cách tốt nhất để xác định nếu nó có xu hướng hiếu động thái quá. vì lý do này, những người chăm sóc cho trẻ ở trường mẫu giáo hoặc cô bảo mẫu có thể là nguồn thông tin tốt nhất của bạn. họ có thể cho bạn biết cách cư xử của bé trong một nhóm và liệu nó có hành vi nổi bật nào so với các trẻ khác ở cùng độ tuổi. Dấu hiệu cụ thể của ADHD bao gồm:
  • Khó khăn trong việc tập trung đến các hoạt động mà những đứa trẻ khác ở cùng độ tuổi của nó thích thú
  • Gặp khó khăn trong việc làm theo những chỉ dẫn dù đơn giản chỉ vì không chú ý
  • Bốc đồng, chẳng hạn như liên tục chạy vào đường phố mà không nhìn, dành đồ chơi của trẻ em khác, chạy qua các khu vực không được phép mà không cân nhắc hậu quả.
  • Những hoạt động vội vã không cần thiết, chẳng hạn như chạy và nhảy mà không có thời gian nghỉ ngơi
  • Những thể hiện tình cảm bất ngờ, như khóc, giận dữ la hét, đánh, hoặc thất vọng không hợp lý
  • Liên tục phạm lỗi vì không lắng nghe dù đã được nói "không" nhiều lần
Nếu bạn và những người khác nhận ra một vài trong những dấu hiệu cảnh báo diễn ra nhiều lần, phải tham khảo ý kiến bác sĩ nhi khoa của bạn. các bác sĩ sẽ tiến hành kiểm tra ADHD và sẽ xem xét cho con em để loại ra các nguyên nhân về bệnh lý, sau đó hoặc tiến hành kiểm tra thêm, hoặc giới thiệu bạn đến một bác sĩ nhi khoa hành vi phát triển, tâm lý học, hoặc bác sĩ tâm thần trẻ em cho một đánh giá chính thức hơn. nếu chuyên gia này xác định rằng con bạn mắc ADHD, các bác sĩ hay chuyên gia trị liệu có thể đề nghị một số chiến lược cụ thể cho việc quản lý hành vi của bé và có thể đề nghị bạn tìm hiểu về hệ thống các kỹ năng điều khiển hành vi của chính bạn, sử dụng liệu pháp hành vi/ đào tạo hành vi dành cho cha mẹ (xem thêm phần CÁCH ĐÁP ỨNG, dưới đây)
Việc sử dụng thuốc cũng có thể được đề nghị, tùy thuộc vào hiệu quả của các biện pháp trị liệu hành vi với bé. Trẻ ở tuổi chập chững và sắp đi học thay đổi rất nhanh, do đó những gì có vẻ như là vấn đề hành vi ở một thời điểm sẽ không còn nữa một vài tháng sau đó. Điều quan trọng là phải xem xét những hành vi diễn ra liên tục hơn sáu tháng.
Hãy ghi nhớ rằng thuốc chỉ được sử dụng trong những trường hợp nghiêm trọng, và chỉ sau khi đã thử các biện pháp kiểm soát hành vi của cha mẹ. thuốc ít khi được kê đơn cho trẻ em dưới ba tuổi. Học viện Nhi khoa Mỹ khuyên rằng trẻ em với ADHD nên có một bệnh sử toàn diện, lịch sử gia đình, và phải được khám sức khỏe trước khi bắt đầu điều trị bằng thuốc (đặc biệt, với loại gọi là thuốc "kích thích"). trong một số trường hợp, nếu bệnh sử hoặc kết quả kiểm tra thể chất đáng lo ngại, bác sĩ có thể tư vấn cho con bạn kiểm tra điện tâm đồ (một bài kiểm tra đo lường hoạt động của tim) trước khi kê đơn các loại thuốc này.
Là cha mẹ của một đứa trẻ với ADHD, bạn có thể nghe về phương pháp trị liệu "thay thế", phần nhiều vẫn chưa được chứng minh và một vài trong số đó không hiệu quả. nên Nói chuyện với bác sĩ nhi khoa của bạn trước khi cho con bạn áp dụng bất kỳ liệu pháp thay thế.
Cách phản ứng
Nếu con bạn có  dấu hiệu của ADHD, có nghĩa là bé không thể điều khiển hành vi của chính mình. Trong sự vội vàng và phấn khích của mình, bé có thể dễ gặp bị tai nạn hay phá hỏng các đồ vật. để chấn chỉnh một đứa trẻ hiếu động thái quá, bạn cần phải phản ứng một cách hiệu quả và mang tính xây dựng. Nếu biện pháp của bạn có hiệu quả, kết quả là hành vi của trẻ sẽ được cải thiện. Nếu biện pháp đó mang tính xây dựng, nó sẽ giúp phát triển lòng tự trọng của trẻ và làm cho bé dễ gần hơn. Phần tiếp theo (Biện pháp Kỷ luật hiệu quả- Effective Discipline) cung cấp một số ví dụ về phản ứng có hiệu quả và mang tính xây dựng cho những vấn đề thường gặp ở trẻ em hiếu động.
Điều quan trọng là phải phản ứng ngay lập tức bất cứ khi nào con bạn cư xử không đúng mực và để đảm bảo rằng tất cả mọi người xung quanh phản ứng lại với cùng một cách. kỷ luật có nghĩa là dạy bé cách tự kiểm soát. Nếu được thực hiện có hiệu quả, bạn sẽ ít khi cần phải sử dụng các hình phạt. Không nên đánh hay tát con bạn vì điều đó không khuyến khích nó kiểm soát bản thân mà có thể góp phần tạo nên một hình ảnh tiêu cực và oán hận về phía bạn, đồng thời, cách tiếp cận này nói với nó rằng chẳng có vấn đề gì khi tấn công người khác. Thay vào đó, xác định và chỉ ra những lần con bạn có những hành vi đúng mực ("nhận ra bé đang cư xử tốt"), và học cách chủ động bỏ qua những hành vi sai nhưng không nguy hiểm; phương pháp tiếp cận này có hiệu quả trong tương lai xa. trẻ em với ADHD có thể rất khó khăn để quản lý và phụ huynh có thể cần được giúp đỡ hay huấn luyện để có thể quản lý hiệu quả các hành vi của con em mình.

Sưu tầm từ BanCuaBe.org

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ NHỎ

Sự phát triển của trẻ là một quá trình đa dạng và liên tục, đó là một tiến trình không đơn giản, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố trong cách nuôi dưỡng và chăm sóc. Trong sự phát triển của mình trẻ sẽ gặp nhiều yếu tố tác động gây ra những vấn đề trong các lĩnh vực như : 
Vận động, khả năng giao tiếp, ứng xử , và phát triển ngôn ngữ, điều này cần có sự quan tâm của bố mẹ để không làm cho tình trạng rối nhiễu trở nên nặng nề gây ra những trở ngại trong tiến trình phát triển của bé.

1.Vấn đề về phát triển vận động
Khi bé đã được 6 tháng đến 1 năm, thì khả năng vận động có một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển tâm lý của trẻ. Ở đây, ta nên hiểu rõ khái niệm về sơ đồ cơ thể (Schéma coporel /body scheme). Đó là sự nhận biết của trẻ về cơ thể mình, không chỉ là tên gọi mà còn là chức năng của các bộ phận trên cơ thể. Trẻ sẽ dần dần ý thức được sự hiện hữu của các bộ phận trên cơ thể và học cách làm chủ được sự vận động qua việc phối hợp giữa các bộ phận đó. Một bước quan trọng trong sự hình thành sơ đồ cơ thể là đến tháng thứ 7-8, trẻ bắt đầu nhìn thấy và chú ý đến hình ảnh của mình trong gương. Bố mẹ khi chơi với con, thường đặt ra những câu hỏi với con, đại loại như: tay đâu, mắt đâu, miệng đâu …và khi đứa trẻ chỉ đúng, thì được xem là có sự phát triển tốt. Đó là một cách đánh giá đơn giản khả năng ý thức của trẻ về sơ đồ cơ thể mình. Nhưng, chính sự phối hợp vận động của các bộ phận mới nói lên được khả năng phát triển của trẻ. Ngoài việc phối hợp giữa mắt, môi miệng thì các sự vận động sẽ dần dần phát triển theo thời gian, chúng ta sẽ xem xét theo các khả năng dưới đây:
Khả năng ngồi:
Trong thời gian đầu, vào tháng thứ 5 trẻ chỉ có khả năng ngồi yên, và phải chống bằng 2 tay dưới sự giúp đỡ của người lớn. Sau đó sẽ có thể vận động hai tay và cái đầu. Khi đến tháng thứ 8, trẻ sẽ làm chủ hoàn toàn được khả năng ngồi và dễ dàng chuyển sang các tư thế khác.
Khả năng sử dụng bàn tay:
Trẻ có khả năng cầm nắm các đồ vật từ tháng thứ 6 và qua tháng thứ 7 thì biết chuyển các món đồ từ tay này sang tay kia. Đến tháng thứ 8 thì biết dùng 2 ngón tay cái và tay trỏ để kẹp đồ vật. Trong lứa tuổi này, trẻ sẽ bắt đầu có sự bộc lộ rõ rệt khả năng thuận tay phải hay tay trái của mình.
Khả năng trườn và bò:
Từ tháng thứ 4 trẻ đã có thể ngẩn đầu và tập trườn nhưng đến tháng thứ 8 trẻ mới có khả năng tự lật để trườn và chống hai cánh tay, hai cẳng chân lên để bắt đầu bò. Có một số trẻ không trải qua giai đoạn này, ta gọi là bỏ bò hay trốn bò, từ tư thế ngồi trẻ sẽ đứng thẳng và tập đi luôn, đây cũng là một hiện tượng bình thường. Nhưng vẫn cần phải lưu ý về sự phát triển ngôn ngữ sau đó.
Khả năng đứng:
Khi đến tháng thứ 9, trẻ sẽ học cách đứng lên. Ban đầu có thể phải vịn vào tay người mẹ hay một món đồ nào đó, dần dần sẽ có khả năng đứng một mình. Vào giai đoạn này, sự an toàn cho trẻ trong phạm vi gia đình cần được bố mẹ lưu tâm. Trẻ chưa có ý thức về sự giới hạn và nguy hiểm, nên có thể bỏ vào miệng bất cứ thứ gì và có khả năng té ngã rất cao.
Vì vậy, luôn phải có một người để mắt đến trẻ hay trẻ phải ở trong một cái cũi có các chấn song bằng gỗ hay mây, để trẻ vịn khi đứng và nếu có ngã vào cũng không nguy hiểm nếu so với chấn song bằng kim loại. Tuy nhiên, khi đã biết chắc là trẻ đã ở trong phạm vi an toàn thì chúng ta nên để trẻ tự do vận động và khám phá, những cú ngã hay sự đau đớn không quá nặng sẽ giúp trẻ biết rút kinh nghiệm để hoàn thiện hơn khả năng vận động của mình.
Trong khi cho trẻ ăn, việc giao tiếp bằng ánh mắt và lời nói giữa mẹ và con là rất cần thiết, bà mẹ (hay người cho trẻ ăn) nên ngồi đối diện nếu cho trẻ ngồi trên ghế ăn. Khi vừa bế vừa cho trẻ ăn thì nên ở trong tư thế đối mặt, hoặc tạo điều kiện sao cho trẻ thấy được khuôn mặt của mẹ, nụ cười, ánh mắt yêu thương, cái miệng chuyển động và những lời nói êm dịu sẽ được trẻ “hấp thụ” kèm theo những muỗng thức ăn. Điều này giúp cho trẻ được nuôi dưỡng cả thể xác lẫn tâm hồn và có vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ sau này của trẻ.
Khi trẻ đã đứng được trên hai chân mình, thì đây là giai đoạn bắt đầu cho một tiến trình tự khẳng định mình, trẻ bắt đầu phân biệt giữa cái tôi và những người xung quanh. Một mặt, trẻ ý thức được sự ràng buộc giữa bản thân và người mẹ, vẫn bám mẹ nhưng mặt khác đã có những dấu hiệu cho thấy ý hướng tách rời khỏi sự bế bồng của mẹ, trẻ muốn tự mình bước đi, tìm cách đẩy tay người mẹ ra để tự đứng trên đôi chân dù chưa vững vàng.
Trẻ đã ý thức được cái tôi khi biết rằng, nếu kêu lên thì mẹ sẽ đến, khóc thì sẽ được chú ý, cười thì sẽ được hưởng ứng và nếu nắm lấy một món đồ chơi rung lên, nó sẽ phát ra tiếng động, nếu nắm một sợi dây cột một món đồ rồi kéo đến, nó sẽ lại gần trong tầm tay. Trẻ cũng sẽ biết rằng, mẹ có thể đi ra khỏi tầm nhìn của mình nhưng rồi mẹ sẽ trở lại, một món đồ có thể bị che đi nhưng vẫn không bị mất mà có thể thấy lại được. Đây cũng là những yếu tố để đánh giá khả năng phát triển của trẻ và cũng là cơ sở để mẹ hay người chăm sóc đưa ra các trò chơi với cấp độ thích hợp.
Như vậy, ban đầu những cử động đầu tiên của trẻ chỉ là những xung động tràn lan, không phân biệt tay chân và không có mục đích, sau đó trẻ dần dần hình thành những vận động có phân định vào một bộ phận rõ rệt (tay sờ, nắm, cầm, ném…chân co duỗi, bước đi, đá…) rồi sau đó là những hoạt động mang tính phối hợp có chủ đích rõ ràng và các chuỗi hành động này gọi là hoạt động có định hướng.
Những ý thức này khiến cho phạm vi hoạt động của trẻ được mở rộng, bà mẹ nên tạo điều kiện cho trẻ được phát huy khả năng tự chủ ngày càng nhiều hơn. Chúng ta nên nhớ: Trẻ phải xa lìa khỏi mẹ trước 3 tháng là quá sớm, nhưng trẻ chỉ xa lìa mẹ sau một năm là quá muộn. Vì vậy, nếu không vì hoàn cảnh bắt buộc, thì không nên gửi con đi nhà trẻ trước 3 tháng tuổi, và cũng không nên giữ con ở nhà mà không cho con đi nhà trẻ khi con đã hơn 1 tuổi.
Tam-ly-tre-em-ky-nang-song-cho-tre-nho-cha-me-choi-cung-con-do-van-dai.jpg

2.Những vấn đề về khả năng giao tiếp -phát âm
Giai đoạn từ 1 đến 3 tuổi được xem là một giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ, từ một trẻ sơ sinh, khả năng quan sát và vận động còn nhiều hạn chế, với sự phát triển khá nhanh trẻ đã biết đi từ những bước chập chững trong năm đầu cho đến khi có thể chạy lon ton vào năm 3 tuổi. Phạm vi quan sát được mở rộng nhờ khả năng di chuyển, nên trẻ tiếp thu nhiều thông tin bằng mọi giác quan và cũng chịu nhiều tác động cả tốt lẫn xấu đến từ bên ngoài.
Trẻ bắt đầu có khả năng hình dung và tưởng tượng, biết dùng vật này thay cho vậy khác (dùng các khối gỗ để tưởng tượng thành chiếc xe hay cái tủ…) Trẻ biết chơi bên cạnh nhau, bắt chước nhau nhưng chưa có khả năng cộng tác hay phối hợp để cùng chơi với nhau.
Trong lứa tuổi này, trẻ có khả năng hiểu những mệnh lệnh đơn giản, có thể đưa tay chỉ điều mình muốn, hay nắm tay người lớn để yêu cầu lấy cho một vật gì, và bắt đầu phát âm từ những âm, tiếng rời rạc, dần dần thành những câu ngắn, ba – bốn từ.
Lúc đầu còn ngọng nghịu, dần dần sẽ rõ hơn nhưng có thể còn sai ngữ pháp, chúng ta cũng không nên bắt trẻ phải nói chính xác, nhưng cũng không nên bỏ qua những câu nói ngọng khiến trẻ quen với cách nói sai, lớn lên sẽ khó điều chỉnh.
Vì thế, khi nói với trẻ cần nói ngắn gọn, rõ ràng trẻ sẽ học theo đó để tự điều chỉnh.
Tình trạng nói lắp và nói ngọng
Nên phân biệt giữa nói ngọng  nói lắp. Nói ngọng là nói sai các phụ âm đầu như L thành N ( long lanh thành nong nanh ) hay ngược lại. Việc nói ngọng thường là do nghe cha mẹ, người xung quanh nói sai rồi bắt chước, lâu ngày thành một cố tật khó sửa, có những địa phương rất nhiều người nói ngọng giống nhau. Đây là một tác động mang tính địa phương, rất khó thay đổi hay điều chỉnh mà chỉ có thể làm giảm nhẹ.
Còn nói lắp là một tật chứng, thường do trẻ không đủ vốn từ để diễn tả nên cứ lập đi lập lại một vài từ đầu câu : con..con..con …muốn ăn, có khi chỉ nói lắp một từ đầu, có khi nói lắp nhiều từ trong một câu. Khi trẻ bắt đầu nói sẽ lắp bắp tìm chữ và thường tự thúc hối nói cho nhanh những gì mình đang nghĩ ra mà chữ thì không có sẵn. Hiện tượng này thường tự khỏi khi trẻ lớn lên có đủ vốn từ. Trong những trường hợp nói lắp kéo dài sau 12 tháng, có thể là do sự phát triển không bình thường của não bộ. Ngoài ra nói lắp cũng có thể do một khúc mắc nào đó giữa trung tâm ngôn ngữ trong não bộ và hệ cơ của môi lưỡi và hộp phát âm. Do đó có sự trục trặc trong việc sắp xếp câu cú. Trong trường hợp nhẹ, chỉ cần sự quan tâm và điều chỉnh theo những biện pháp dưới đây, còn trong trường hợp nặng phải có sự can thiệp của các nhà chuyên môn về tâm lý và chỉnh âm.
Tình trạng Chậm nói
Khi một trẻ đã đi được mà chưa nói được những câu đơn giản, ta có thể xem đó là tình trạng Chậm nói. Đây là một biểu hiệu cho biết trẻ có thể có những khó khăn về phát triển (Chậm Khôn) về vận động (Hiếu động kém chú ý) hay có những khó khăn trong quan hệ ứng xử (Tự kỷ) vì vậy, việc nhận biết một trẻ chậm nói là điều dễ dàng, nhưng để xác định là trẻ có những khó khăn về phương diện gì, và nhất là để chẩn đoán mức độ nặng/nhẹ của trẻ thì phải được sự thăm khám nhiều lần của những nhà chuyên môn về tâm lý phát triển.
Khi phát hiện những trở ngại về ngôn ngữ, như chậm nói, nói lắp, nói ngọng… chúng ta cần đưa trẻ đến các nhà chuyên môn về tâm lý để có những điều chỉnh kịp thời. Nhưng nên nhớ rằng chính những giao tiếp đúng cách tại gia đình mới là những yếu tố tích cực đem lại hiệu quả cho sự tiến bộ của trẻ, chứ không phải là những liệu pháp thần kỳ của các chuyên viên mà bố mẹ có thể “khoán trắng” cho họ.
Phân biệt các tình trạng chậm nói:
          Có nhiều người coi việc chậm nói là một tình trạng và thường cho rằng đó là hậu quả của việc thiếu quan tâm chăm sóc của bố mẹ. Điều đó tuy không sai nhưng đó chỉ là một khía cạnh trong nhiều khía cạnh khác nhau của sự chậm nói.
            Chúng ta nên biết rằng, ngoài những tình trạng như hội chứng Tự Kỷ, Hiếu động kém chú ý, Chậm khôn… đều có biểu hiện là chậm nói, thì các trẻ có tình trạng trầm cảm, lo hãi hay hung hăng, thích gây hấn cũng có tình trạng chậm nói, nhưng nguyên nhân gây ra sự chậm nói của các trẻ này lại khác với các trẻ Tự Kỷ, Hiếu động và vì thế biện pháp can thiệp, tập luyện cũng khác biệt. Như thế, việc chậm nói có thể do các nguyên nhân:
1.Chậm nói do kém phát triển về trí khôn, có khó khăn về khả năng nghe hay khó khăn về khả năng phát âm
2.Chậm nói do không phát triển được về khả năng giao tiếp ứng xử,có khó khăn trong sự chú ý, có tình trạng hiếu động.
3.Chậm nói do không muốn nói vì tình trạng lo hãi, trầm cảm, có ác cảm với những người xung quanh.
Vì thế, cần phải xác định được đâu là nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng chậm nói cho trẻ. Từ đó mới có thể áp dụng những phương pháp can thiệp thích hợp.

3.Những vấn đề về ứng xử & tính tự chủ
Đa số trẻ trong độ tuổi này, nhất là các bé trai đều có tác phong hiếu động, thích cầm nắm, đụng tay vào mọi vật và chưa có khả năng tập trung chú ý vào một việc gì lâu trên 10 phút. Trẻ dễ bị kích thích và dễ kích động, điều quan trọng là trẻ bắt đầu biết phân biệt giũa bản thân và người khác. Chính vì vậy, để chứng minh cho khả năng tự chủ, trẻ thường hay từ chối các yêu cầu của người khác mà đôi khi chính trẻ cũng không hiểu rõ đó là yêu cầu gì, cứ nói không cái đã. Nếu không hiểu, chúng ta có thể gây ra những căng thẳng hay ức chế cho trẻ vì cho rằng đó là thái độ cứng đầu, khó bảo hay không chịu nghe lời (vì không tập trung vào chuyện ghi nhớ các mệnh lệnh) và dẫn đến sự trừng phạt không hợp lý.
Cũng có người cho rằng trẻ rất ích kỷ, chỉ biết có mình nhưng thực ra đây là bản tính ái kỷ, đó là một tiến trình phát triển tự nhiên. Ái kỷ là hay nói đơn giản là thái độ chỉ quan tâm đến những nhu cầu của bản thân và chưa nhận biết được tính đạo đức trong các hành vi, cái gì mà trẻ đã nắm trong tay thì cái đó là của trẻ và trẻ không muốn chia sẻ những cái gì mình có. Vì điều đó, trẻ bắt đầu có những va chạm với những quy định và sự giới hạn hoạt động, gây ra những xung đột với những trẻ khác và người trong nhà. Vì thế chúng ta phải giúp trẻ có ý thức trong 3 phạm vi mang tính sở hữu:
-Khu vực được tự do: (đáp ứng các nhu cầu cá nhân, và vui chơi trong một khu vực nhất định ), trẻ cần có một khu vực “oanh kích tự do” có thể làm mọi điều miễn là được bố trí các biện pháp an toàn ( trải thảm hay nệm mỏng, không có các cạnh bàn, cạnh tủ nguy hiểm, không có ổ cắm điện…) Đây là phòng của trẻ hay một góc phòng ngủ, phòng sinh hoạt chung của gia đình.
Khu vực có thể: (sử dụng các món đồ và chơi trong các khu vực được phép khi có mặt người lớn). Đây là phần lớn các khu vực trong nhà, như phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn, khi trẻ chơi cần có sự cho phép và lưu ý của người lớn.
Khu vực không được phép: (không được chạm vào các món đồ quý hay có thể nguy hiểm cho trẻ, không được chơi trong các khu vực cấm…) Đây có thể là nhà bếp, phòng tắm …Trẻ chỉ có thể vào các nơi này khi có mặt người lớn.
Ý thức được các phạm vi sở hữu này rất cần thiết, một mặt giúp cho trẻ phát triển và tự do hoạt động ở khu vực được phép, mặt khác trẻ sẽ biết được những giới hạn để tuân theo các yêu cầu của người lớn. Điều này sẽ có tác dụng khi trẻ đi vào các khu vực công cộng, trẻ sẽ chấp nhận sự ngăn cấm của bố mẹ mà không dở trò ăn vạ, tự ý làm những trò phá rối hay gây nguy hiểm cho bản thân.
4.Trở ngại về quan hệ ứng xử:
Đôi khi có những trẻ không có một khuyết tật nào về các giác quan, trông bề ngoài rất bình thường, khỏe mạnh nhưng lại có những vấn đề rối nhiễu về nhận thức, giao tiếp và hành vi mà tiêu biểu là hội chứng rối loạn hiếu động kém chú ý, tình trạng tự kỷ và các vấn đề chậm trễ về ngôn ngữ.
Có thể nói, những trở ngại về quan hệ ứng xử, về hành vi tương tác là những trở ngại phức tạp và khó khắc phục nhất, điều này thường khó tạo được sự chấp nhận của phụ huynh vì thế họ thường dễ rơi vào hai thái độ tiêu cực: Quá bi quan về tình trạng con mình, tìm kiếm một cách mù quáng những biện pháp chăm chữa khác nhau và thường xuyên đau khổ, dằn vặt bản thân cũng như những người xung quanh. Hay sẽ có thái độ coi thường, đánh giá thấp những vấn đề của trẻ, không nhìn ra những nhu cầu đặc biệt của trẻ, thờ ơ trước những phương pháp giáo dục đặc biệt mà cứ cố gắng tạo ra một ảo tưởng là trẻ sẽ có khả năng phát triển bình thường sau một thời gian nữa, khi trẻ lớn khôn hơn vì thế vẫn cứ cố gắng gán ghép trẻ theo học các trường lớp bình thường mà không kèm theo một biện pháp chăm sóc nào khác.
Các trở ngại về quan hệ ứng xử cũng khó có được sự chấp nhận và thông cảm của những người xung quanh, mọi người thường dễ xúc động trước hình ảnh của một trẻ khuyết tật về thể chất, các trẻ này dễ gợi lên cho họ một sự quan tâm, những tình cảm yêu thương vì tội nghiệp, từ đó có rất nhiều trường học, trung tâm, cơ sở chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật. Còn với những trẻ như Tự kỷ, hiếu động …thì đôi khi lại khiến mọi người khó chịu vì các hành vi thiếu ổn định của trẻ và đưa đến tình trạng khó chấp nhận sự hòa nhập của các em với cộng đồng, và việc dạy dỗ để giúp trẻ phát triển và thay đổi hành vi là điều rất khó khăn đòi hỏi những trang thiết bị chuyên biệt cũng như trình độ chuyên môn của giáo viên, chuyên viên. Vì thế nhu cầu được giáo dục, chăm sóc của các em thường chỉ đè nặng lên đôi vai của bố mẹ.
Hiện nay, mô hình các câu lạc bộ phụ huynh trẻ Tự kỷ, hiếu động … là những hoạt động tích cực, tạo ra những năng lực cho các phụ huynh có thêm sự chia sẻ, động viên và nâng cao nhận thức. Tuy nhiên, phụ huynh cũng cần cảnh giác trước tình trạng có nhiều người chỉ sau một thời gian mày mò tìm hiểu các phương pháp giáo dục cho con mình, qua đó tự giúp cho con mình có được một số tiến bộ … nay lại đóng vai một chuyên gia, tận dụng các phương tiện truyền thông để đưa ra những chẩn đoán không có cơ sở khoa học và giới thiệu những biện pháp trị liệu tốn kém mà chưa biết rõ hiệu quả đến đâu. Chúng ta nên biết rằng, khác với những khuyết tật về thể lý, hay các tình trạng như Chậm khôn, bại não mà những phương pháp phục hồi chức năng, những nguyên tắc giáo dục đặc biệt đều có thể áp dụng cho các trẻ em có những trở ngại tương tự nhau. Các trẻ có vấn đề về quan hệ ứng xử như Tự Kỷ, hiếu động… là những vấn đề hoàn toàn cá biệt, không có một trẻ Tự Kỷ nào có những vấn đề, khả năng và nhu cầu giống với một trẻ tự kỷ nào. Việc xây dựng một kế hoạch trị liệu là phải dựa vào những khả năng và tình trạng riêng biệt của trẻ đó. Ngoài ra, việc vận dụng các nền tảng lý luận và đưa vào ứng dụng là trách nhiệm của các nhà chuyên môn (Bác sĩ, chuyên viên tâm lý) đã qua đào tạo và kinh nghiệm lâm sàng nhiều năm chứ không thể dựa vào kinh nghiệm bản thân trong việc giáo dục cho con mình để phổ biến như một phương pháp giáo dục đại trà. Vì thế trong tiến trình can thiệp luôn phải có sự phối hợp chặt chẽ với giữa gia đình và các nhà chuyên môn, việc mày mò tìm kiếm các thông tin trên mạng, qua sách báo chỉ nên xem là những tham khảo vì phải xác định được phương hướng và mục tiêu chủ yếu cho hoạt động can thiệp, để tránh sự lãnh phí thời gian. 
Cv.Tl LÊ KHANH